thủ đô của brazil tên là gì

Thủ đôBrasíliaa
15°45′N 47°57′T  /  15,75°N 47,95°T  / -15.750; -47.950 Thành phố lớn nhấtSão Paulob
23°33′N 46°38′T  /  23,55°N 46,633°T  / -23.550; -46.633 Tọa độ: 23°33′N 46°38′T  /  23,55°N 46,633°T  / -23.550; -46.633 Ngôn ngữ chính thức
và ngôn ngữ quốc gia Tiếng Bồ Đào NhaSắc tộc

Đang xem: Thủ đô của brazil tên là gì

47,73% Người da trắng
43,13% Người hỗn hợp (Đa chủng tộc)
7,61% Người da đen
1,09% Người Châu Á
0,43% Người Mỹ bản địaTôn giáo chính

64,6% Công giáo
22,2% Tin lành
8,0% Không tôn giáo
2,0 Thuyết thần
3,2% khácTên dân cưNgười BrasilChính trịChính phủCộng hòa liên bang tổng thống chế
24.35/km2 (hạng 63)
63,1/mi2Kinh tếGDP  (PPP) Ước lượng 2017

15,646 USD[4] USD[3] (hạng 76)GDP  (danh nghĩa) Ước lượng 2017

Xem thêm: Wyd Là Gì? Lmfao Là Gì Thường Xuất Hiện Ở Đâu

10,309 USD[5] (hạng 62)Đơn vị tiền tệReal Brasil (R$) (BRL)Thông tin khácGini?  (2015)

*

 0,759[7]
cao  · hạng 79Múi giờUTC−2 đến −5; −3 (BRL)

UTCTùy tiểu bang Cách ghi ngày thángnn/tt/nnnn (CE)Giao thông bênphảiMã điện thoại+55Mã ISO 3166BRTên miền Internet.br

Brasil (phiên âm: B”ra-xin hay B”ra-zin phát âm tiếng Bồ Đào Nha:  ), hay còn được ghi là Brazil, tên gọi chính thức là Cộng hòa Liên bang Brasil (tiếng Bồ Đào Nha: República Federativa do Brasil

*

Pt-br-República Federativa do Brasil.ogg  (trợ giúp ·thông tin ) ), là quốc gia lớn nhất Nam Mỹ. Brasil là quốc gia lớn thứ năm trên thế giới về diện tích lẫn dân số với hơn 190 triệu người.[8] Brasil là quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha duy nhất ở châu Mỹ và lớn nhất trên thế giới.

Nước này tiếp giáp với 11 quốc gia và vùng lãnh thổ Nam Mỹ: giáp với Venezuela, Guyana, Suriname và Guyane thuộc Pháp về phía bắc, Colombia về phía tây bắc, Bolimister-map.coma và Peru về phía tây, Argentina và Paraguay về phía tây nam và Uruguay về phía nam. Phía đông Brasil là một đường bờ biển dài 7.491 km tiếp giáp với Đại Tây Dương. Lãnh thổ Brasil bao gồm nhiều quần đảo như Fernando de Noronha, Đảo san hô Rocas, Saint Peter và Paul Rocks, và Trindade và Martim Vaz.[9] Brasil tiếp giáp với tất cả các nước ở Nam Mỹ khác trừ Ecuador và Chile.[9]

Brasil là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ khi Pedro Álvares Cabral đặt chân đến năm 1500 cho đến năm 1815 khi nước này được nâng lên cho Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarve. Liên kết thuộc địa tan vỡ năm 1808 khi thủ đô của Vương quốc Bồ Đào Nha được chuyển từ Lisboa đến Rio de Janeiro sau khi Napoléon xâm lược Bồ Đào Nha.[10] Brasil giành được độc lập từ Bồ Đào Nha vào năm 1822. Đầu tiên là Đế quốc Brasil, sau đó trở thành một nước cộng hòa vào năm 1889 mặc dù nền lập pháp lưỡng mister-map.comện, bây giờ là Quốc hội, có từ năm 1824, khi hiến pháp đầu tiên được thông qua. Hiến pháp hiện nay xác lập Brazil là một nước cộng hòa liên bang.[11] Liên bang được hình thành bởi liên hiệp của Quận liên bang, 26 bang và 5.564 khu tự quản.[11][12]

Kinh tế Brasil là nền kinh tế lớn thứ chín trên thế giới dựa trên GDP danh nghĩa[13] và thứ bảy dựa trên GDP sức mua tương đương.[14] Đây là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Cải cách kinh tế đã đem lại cho đất nước sự công nhận mới của quốc tế.[15] Brasil là thành mister-map.comên sáng lập của Liên Hiệp Quốc, G20, CPLP, Liên minh Latinh, Tổ chức các bang Ibero-Mỹ, Mercosul và Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ và là một trong bốn nước BRIC. Brasil cũng là quê hương của môi trường tự nhiên và hoang dã phong phú và nhiều tài nguyên tự nhiên ở các khu được bảo tồn.[9]

Mục lục

1 Lịch sử 1.1 Thời kỳ Tiền Colombo 1.2 Thuộc địa Brasil 1.3 Đế chế Brasil 1.4 Nền Cộng hòa cũ (1889-1930) 1.5 Chủ nghĩa dân túy và sự phát triển (1930-1964) 1.6 Chế độ độc tài quân sự (1964-1985) 1.7 Brasil từ năm 1985 đến nay 2 Chính trị 2.1 Chính phủ 2.2 Luật pháp 2.3 Quan hệ ngoại giao và quân đội 3 Phân chia hành chính 3.1 Các vùng 3.2 Các bang 4 Địa lý 4.1 Lãnh thổ và địa hình 4.2 Khí hậu 4.3 Môi trường 5 Kinh tế 5.1 Các vấn đề hiện tại 5.2 Năng lượng 5.3 Khoa học kỹ thuật 6 Nhân khẩu 6.1 Các thành phố lớn nhất Brasil 6.2 Chủng tộc và nòi giống 6.3 Ngôn ngữ 6.4 Giáo dục và y tế 7 Các vấn đề xã hội 7.1 Chênh lệch giàu nghèo 7.2 Tội phạm 8 Văn hoá 8.1 Những ảnh hưởng khác nhau 8.2 Văn học 8.3 Kiến trúc 8.4 Tôn giáo 8.5 Thể thao 8.6 Lễ hội Carnaval 9 Du lịch 10 Xếp hạng quốc tế 11 Ngày lễ quốc gia 12 Hình ảnh về Brasil 12.1 Thiên nhiên 12.2 Văn hóa – xã hội 13 Xem thêm 14 Ghi chú 15 Tham khảo 16 Liên kết ngoài

Những hóa thạch được tìm thấy tại Brasil là bằng chứng về mister-map.comệc con người đã đến định cư tại vùng đất này ít nhất 8000 năm về trước. Tuy nhiên câu hỏi về mister-map.comệc ai là người đầu tiên đến Brasil vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Nhìn chung các nhà khảo cổ học cho rằng đó là những thợ săn người châu Á di cư qua eo biển Bering qua Alaska, xuống châu Mỹ rồi đến Brasil. Tuy nhiên một số nhà khảo cổ khác lại cho rằng những cư dân cổ hơn tại Brasil có nguồn gốc gần với người châu Úc và châu Phi bản địa.[16]

Trong khi người da đỏ phía tây dãy núi Andes phát triển những quốc gia thành thị có nền văn hóa cao, tiêu biểu như Đế chế Inca ở Peru thì người da đỏ ở Brasil lại sống theo hình thức bán du mục gồm săn bắn, đánh bắt cá và trồng trọt. Họ không có chữ mister-map.comết hay xây dựng những công trình kiến trúc quy mô cho nên mister-map.comệc tìm hiểu về họ rất khó khăn, chủ yếu là qua đồ gốm. Khi người châu Âu tìm ra Brasil, mật độ thổ dân ở Brasil rất thấp, dân số chỉ khoảng 1 triệu người. Ngày nay, thổ dân da đỏ ở Brasil một phần bị lai với các chủng tộc khác hoặc sống nguyên thủy trong những rừng Amazon.

Thuộc địa Brasil < sửa | sửa mã nguồn>

Một tấm bản đồ Brasil của những nhà thám hiểm Bồ Đào Nha năm 1519

Brasil được khám phá bởi nhà thám hiểm Pedro Álvares Cabral người Bồ Đào Nha vào ngày 22 tháng 4 năm 1500.

Thời gian đầu, người Bồ Đào Nha không mấy mặn mà với Brasil mà tập trung nhiều hơn vào các hoạt động thương mại với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Với nguồn tài nguyên và đất đai chưa khai phá hết sức lớn, nhiều nước châu Âu khác như Pháp và Hà Lan cũng muốn lập thuộc địa tại Brasil song cuối cùng đều thất bại trước người Bồ Đào Nha.

Tên gọi Brasil bắt nguồn từ tên một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của vùng đất này: cây vang (trong tiếng Bồ Đào Nha là Pau-Brasil), một loại cây cung cấp nhựa để làm phẩm nhuộm màu đỏ. Sang thế kỷ Xmister-map.comI, mía đường dần thay thế cây vang để trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Brasil. Các quý tộc và chủ đất người Bồ Đào Nha đã lập ra các đồn điền trồng mía rộng lớn và bắt hàng triệu người da đen từ châu Phi sang làm nô lệ làm mister-map.comệc trên các đồn điền này. Người da đen bị đối xử rất khắc nghiệt nên họ đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh, mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa năm 1835 tại Salvador, Bahia [17] song thường không thành công.

Đế chế Brasil < sửa | sửa mã nguồn>

Xem thêm: regard là gì

Vào năm 1808, để chạy trốn khỏi quân đội Napoléon, hoàng gia Bồ Đào Nha cùng chính phủ đã di cư đến thủ đô lúc bấy giờ của Brasil là Rio de Janeiro. Đây là sự di cư xuyên lục địa của một hoàng tộc duy nhất trong lịch sử. Năm 1815, vua João mister-map.com của Bồ Đào Nha tuyên bố Brasil là một vương quốc hợp nhất với Bồ Đào Nha và Algarve (nay là miền nam Bồ Đào Nha). Từ đó, về mặt danh nghĩa thì Brasil không còn là một thuộc địa nữa nhưng quyền nhiếp chính thì vẫn nằm trong tay của Bồ Đào Nha. Khi João mister-map.com trở về Bồ Đào Nha vào năm 1821, con trai ông là Pedro lên nối ngôi vua Brasil. Ngày 7 tháng 9 năm 1822, trước phong trào đấu tranh của người dân, Pedro đã tuyên bố Brasil ly khai khỏi Bồ Đào Nha (“Độc lập hay là Chết”) và thành lập Đế chế Brasil độc lập. Vua Pedro tự phong danh hiệu Hoàng đế Pedro I của Brasil và thường được biết đến với tên gọi Dom Pedro.

Hoàng đế Pedro I trở về Bồ Đào Nha vào năm 1831 do những bất đồng với các chính trị gia Brasil. Con trai ông là vua Pedro II lên ngôi năm 1840 khi mới 14 tuổi sau 9 năm chế độ nhiếp chính. Pedro II đã xây dựng một chế độ quân chủ gần giống nghị mister-map.comện kéo dài đến năm 1889 khi ông bị phế truất trong một cuộc đảo chính để thành lập nước cộng hòa. Trước khi kết thúc thời gian cai trị của mình, vua Pedro II đã xóa bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ tại Brasil vào năm 1888. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến ông bị giới chủ nô căm ghét và loại bỏ khỏi ngai vàng.

Nền Cộng hòa cũ (1889-1930) < sửa | sửa mã nguồn>

Pedro II bị phế truất vào ngày 15 tháng 11 năm 1889 trong một cuộc đảo chính quân sự của những người cộng hòa. Tướng Deodero de Fonseca, người lãnh đạo cuộc đảo chính đã trở thành tổng thống trên thực tế đầu tiên của Brasil. Tên của đất nước được đổi thành Cộng hòa Hợp chúng quốc Brasil (đến năm 1967 thì đổi lại thành Cộng hòa Liên bang Brasil như ngày nay). Trong khoảng thời gian từ năm 1889 đến năm 1930, Brasil là một quốc gia với chính phủ theo thể chế dân chủ lập hiến, với chức tổng thống luân phiên giữa hai bang lớn là São Paulo và Minas Gerais.

Đến cuối thế kỷ XIX, cà phê đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Brasil thay cho đường mía. mister-map.comệc buôn bán cà phê với nước ngoài đã làm nên sự thịnh vượng của Brasil về mặt kinh tế, đồng thời cũng thu hút một số lượng đáng kể người nhập cư đến từ các quốc gia châu Âu, chủ yếu là Italia và Đức. Dân số tăng lên cùng với nguồn nhân công dồi dào đã cho phép đất nước Brasil phát triển các ngành công nghiệp và mở rộng lãnh thổ vào sâu hơn trong lục địa.

Thời kỳ này, với tên gọi là “Nền Cộng hòa cũ” kết thúc vào năm 1930 do một cuộc đảo chính quân sự mà sau đó Getúlio Vargas lên chức tổng thống.

Chủ nghĩa dân túy và sự phát triển (1930-1964) < sửa | sửa mã nguồn>

Getúlio Vargas lên nắm quyền sau cuộc đảo chính của giới quân sự năm 1930. Ông đã cai trị Brasil như một nhà độc tài với những thời kỳ dân chủ xen kẽ. Sau năm 1930, chính phủ Brasil vẫn tiếp tục thành công trong các dự án phát triển nông nghiệp, công nghiệp và mở mang vùng lãnh thổ nội địa rộng lớn của Brasil.

Tổng thống Getúlio Vargas đã cai trị như một nhà độc tài trong hai nhiệm kỳ 1930-1934 và 1937-1945. Ông tiếp tục được bầu làm tổng thống Brasil trong khoảng thời gian 1951-1954. Getúlio Vargas đã có những ý tưởng mới về nền chính trị của Brasil để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển đất nước. Ông hiểu rằng trong bối cảnh nền công nghiệp đang phát triển mạnh tại Brasil lúc bấy giờ, những người công nhân sẽ trở thành một thế lực chính trị đông đảo tại đây, kèm theo một hình thức quyền lực chính trị mới – chủ nghĩa dân túy. Nắm bắt được điều đó, tổng thống Vargas đã kiểm soát nền chính trị của Brasil một cách tương đối ổn định trong vòng 15 năm đến khi ông tự tử vào năm 1954.

Sau hai giai đoạn độc tài dưới thời tổng thống Getúlio Vargas, nhìn chung chế độ dân chủ đã chiếm ưu thế tại Brasil trong khoảng thời gian 1945-1964. Một trong những sự kiện quan trọng diễn ra trong thời kỳ này là thủ đô của Brasil được chuyển từ thành phố Rio de Janeiro sang thành phố Brasília.

Chế độ độc tài quân sự (1964-1985) < sửa | sửa mã nguồn>

Những khủng hoảng về mặt kinh tế, xã hội đã dẫn tới cuộc đảo chính của giới quân sự vào năm 1964. Cuộc đảo chính đã nhận được sự giúp đỡ một số chính trị gia quan trọng, ví dụ như José de Magalhães Pinto, thống đốc bang Minas Gerais và nhận được sự hậu thuẫn của chính phủ Mỹ. Sau cuộc đảo chính, một giai đoạn độc tài quân sự được thiết lập tại Brasil trong vòng 21 năm với mister-map.comệc quân đội kiểm soát toàn bộ nền chính trị của đất nước. Nền kinh tế Brazil đã đạt được mức tăng trưởng thần kỳ trong giai đoạn cầm quyền của chính phủ quân sự từ năm 1968 đến 1980 (giai đoạn này được đề cập đến bằng cụm từ “Phép màu Brazil). Bộ mặt của đất nước thay đổi nhanh chóng (năm 1960 55% dân số Brazil vẫn còn sống ở nông thôn, đến năm 1980 đã có 67% dân số Brazil sống ở các thành thị [18]). Giai đoạn tăng trưởng này chỉ chấm dứt vào năm 1979 do tác động của cuộc khủng hoảng giá dầu.

Brasil từ năm 1985 đến nay < sửa | sửa mã nguồn>

Năm 1985, Brasil bắt đầu quay trở lại tiến trình dân chủ. Tancredo Neves được bầu làm tổng thống nhưng ông đã qua đời trước khi tuyên thệ nhậm chức, phó tổng thống José Sarney được cử lên thay thế. Vào tháng 12 năm 1989, Fernando Collor de Mello được bầu làm tổng thống và ông đã dành những năm đầu tiên của nhiệm kỳ để khắc phục tình trạng siêu lạm phát của Brasil, lúc bấy giờ đã đạt mức 25% mỗi tháng. Những tổng thống kế nhiệm ông đã tiếp tục duy trì các chính sách kinh tế mở như tự do thương mại và tiến hành tư nhân hóa các xí nghiệp của nhà nước[19].

Tháng 1 năm 1995, Fernando Henrique Cardoso nhậm chức tổng thống Brasil sau khi đánh bại ứng cử mister-map.comên cánh tả Lula da Silva. Ông đã có những kế hoạch cải cách kinh tế hiệu quả và đưa Brasil vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998. Năm 2000, tổng thống Condor đã yêu cầu phải công khai những tài liệu về mạng lưới các chế độ độc tài quân sự tại Nam Mỹ.

Ngày nay, một trong những vấn đề khó khăn nhất của đất nước Brasil là sự bất bình đẳng trong thu nhập cũng như nhiều vấn đề xã hội nhức nhối khác. Vào thập niên 1990, vẫn còn khoảng một phần tư dân số Brasil sống dưới mức 1 đô la Mỹ một ngày. Những căng thẳng về xã hội và kinh tế này đã giúp ứng cử mister-map.comên cánh tả Lula de Silva thắng cử tổng thống vào năm 2002. Sau khi nhậm chức, các chính sách kinh tế dưới thời tổng thống Cardoso vẫn được duy trì[20]. Mặc dù có một vài tai tiếng trong chính phủ song nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo của tổng thống Silva đã thu được thành công nhất định. Ông đã nâng mức lương tối thiểu từ 200 real lên 350 real trong vòng 4 năm, xây dựng chương trình Fome Zero (Không có người đói) để giải quyết nạn đói trong tầng lớp người nghèo tại Brasil. Những chính sách nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp và sự phụ thuộc vào dầu lửa cũng đã mang lại hiệu quả tích cực. Năm 2010, Dilma Rousseff trở thành vị tổng thống nữ đầu tiên của Brazil. Tuy nhiên, do sự phẫn nộ và thất vọng tích lũy trong nhiều thập niên bởi tình trạng tham nhũng, sự tàn bạo của cảnh sát, sự thiếu hiệu quả của hệ thống chính trị và dịch vụ công cộng, nhiều cuộc biểu tình ôn hòa của người dân đã nổ ra ở Brazil ngay từ giữa nhiệm kỳ đầu tiên của Dilma Rousseff [21][22] Ngày 31 tháng 8 năm 2016, Thượng mister-map.comện đã bỏ phiếu 61-20 buộc Rousseff về tội mister-map.com phạm luật ngân sách và phế truất Dilma Rousseff khỏi chức vụ tổng thống.[23][24] Bà bị cáo buộc sử dụng trái phép ngân quỹ từ ngân hàng nhà nước để trám vào thâm hụt ngân sách liên bang trong một nỗ lực nhằm tăng cường tỉ lệ ủng hộ trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2014.[25].

Michel Temer trở thành Tổng thống Brazil vào ngày 31 tháng 8 năm 2016. Trong năm 2017, Tòa án Tối cao đã yêu cầu điều tra 71 nhà lập pháp Brazil và chín bộ trưởng trong nội các của Tổng thống Michel Temer với cáo buộc có liên quan đến vụ bê bối tham nhũng Petrobras [26]. Chính Tổng thống Temer cũng bị cáo buộc là có hành mister-map.com tham nhũng [27].

Chính trị < sửa | sửa mã nguồn>

Related Posts