Svr Là Gì – Định Nghĩa Và Sinh Bệnh Học Sốc Do Liệt Mạch

Giới thiệuVề bệnh viện Tổ chứcBệnh việnCác phòng chức năng Các khoa lâm sàngKhám-Cấp cứu Hệ nội Hệ Ngoại Sản Các khoa cận lâm sàng Tin tứcSự kiện Khám bệnhchữa bệnh Đào tạoNCKH Chỉ đạotuyến Hợp tácquốc tế
THỰC HIỆN 5 K (KHẨU TRANG- KHỬ KHUẨN-KHOẢNG CÁCH-KHÔNG TỤ TẬP-KHAI BÁO Y TẾ) PHÒNG CHỐNG COVID — HÃY GIỮ AN TOÀN CHO BẠN VÀ CHÚNG TA TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID-19 — BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NAM ĐÃ TRIỂN KHAI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH QUA SỐ ĐIỆN THOẠI 1900.969646 VÀ QUA TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA BV TẠI MỤC ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH ONLINE

BS. Lê Tự Định – Khoa ICU

Đặt Vấn đề

Liệt mạch là tình trạng sức cản mạch máu hệ thống (SVR = systemic vascular resistance) thấp bất thường được biểu hiện dưới dạng huyết áp thấp rõ rệt hoặc phải cần điều trị để tránh tình trạng huyết áp thấp này, với sự hiện diện của một cung lượng tim bình thường hoặc tăng (Hình 1). Về mặt sinh lý, SVR thấp được định nghĩa là tỷ lệ chênh lệch thấp của áp lực máu động mạch và tĩnh mạch với cung lượng tim . Nguyên nhân của liệt mạch là đa dạng, và một số định nghĩa đã được mô tả cho các nguyên nhân đặc hiệu; tương tự, các thuật ngữ liên quan được sử dụng một cách khác nhau. Việc thiếu vắng sự đồng thuận các định nghĩa dựa trên lâm sàng của chứng liệt mạch đã cản trở tiến trình hiểu biết sinh lý bệnh của chứng này; điều này đặc biệt đúng khi xem xét sự tương đồng giữa sốc giãn mạch do nguyên nhân vô khuẩn hoặc không vô khuẩn — ví dụ hạ huyết áp mặc dù hồi sức dịch đầy đủ trong tổn thương bỏng sớm so với nhiễm khuẩn huyết sớm.

Đang xem: Svr là gì

*

Hình 1: Mối quan hệ giữa trương lực trong sức cản mạch máu, ở tình trạng cung lượng tim tương đương, và huyết áp hệ thống – được giữ nguyên bởi trương lực do tác nhân vận mạch dẫn đến huyết áp bình thường và mất trương lực do tác nhân vận mạch dẫn đến hạ huyết áp

Bệnh nhân điều trị nội trú thường gặp hạ huyết áp do giãn mạch do dùng thuốc gây mê toàn thân hoặc gây tê ngoài màng cứng, và ngay cả khi thoáng qua, điều này có liên quan đến kết cục bất lợi. Tương tự như vậy, hạ huyết áp do giãn mạch do sốc thần kinh có một bệnh sinh không rõ ràng (mất trương lực giao cảm do tổn thương tủy sống) và không được xem xét kỹ thêm. Bài tổng quan này tập trung vào những nguyên nhân của sốc do liệt mạch, phản ánh một đáp ứng khác nhau đối với các mẫu phân tử liên quan đến sinh bệnh học và các mẫu phân tử liên quan đến tổn thương (Hình 2). Đáp ứng với những kích thích này tạo ra sự kết hợp của giãn mạch và gia tăng tính thấm mao mạch. Sự thoát mạch, cùng với sự ứ trệ tuần hoàn qua trung gian của sự liệt mạch có thể dẫn đến tình trạng giảm thể tích máu tuyệt đối, hoặc thường gặp hơn là giảm thể tích máu tương đối. Bù dịch để điều trị hiện tượng này là một tiêu chuẩn chăm sóc, nhưng điều này không điều trị bệnh lý cơ bản và cân bằng dịch dương có liên quan đến sự nguy hại.

*

Hình 2: Các nguyên nhân lâm sàng chính gây liệt mạch

Sốc do liệt mạch (VS = Vasoplegic shock), đồng nghĩa với sốc do rối loạn phân bố, là một rối loạn tuần hoàn quan trọng đã được mô tả tốt nhất là sự liệt mạch với bằng chứng của tình trạng giảm tưới máu mô có thể đi kèm với tình trạng tăng lactate máu. Sự hiện diện tình trạng tăng lactate máu tiên lượng giai đoạn nghiêm trọng của sự xuất hiện tình trạng sốc hoặc sốc nhiễm khuẩn thực sự. Bài tổng quan này mô tả các cơ chế chính liên quan đến sự phát triển của VS, một quá trình qua trung gian bởi một tập hợp đa dạng các con đường kết hợp và góp phần vào sự tiến triển của tình trạng sốc.

Xem thêm: Cho Những Ai Chưa Biết Pak Là Gì ?Để Đạt Cho Những Ai Chưa Biết Pak Là Gì

Cho đến nay, các lựa chọn điều trị của chúng tôi bị giới hạn và không nhắm vào một số con đường sinh lý bệnh chính. Điều trị đầu tiên bằng thuốc co mạch là kinh điển với các catecholamin và sự kháng trị có liên quan đến tình trạng hạ huyết áp kháng catecholamine (CRH). Dù việc truyền các thuốc co mạch là cần thiết để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) đầy đủ, nhưng sự thay đổi đáng kể vẫn còn trong thực hành lâm sàng, đặc biệt là đối với các mục tiêu được cá nhân hóa tùy thuộc vào các đặc điểm thời kỳ ủ bệnh và nỗ lực nghiên cứu hiện tại đang giải quyết vấn đề này. Hơn nữa, nó cũng được công nhận rằng các catecholamine truyền được kết hợp với một loạt các tác dụng phụ trên chuyển hóa, hệ miễn dịch và đông máu.

Xem thêm: “Bên Thứ 3 Tiếng Anh Là Gì ? (Update) Ngày Thứ Ba Trong Tiếng Tiếng Anh

Các phương tiện có sẵn cho các bác sĩ lâm sàng để theo dõi mức độ nặng và ảnh hưởng của chứng liệt mạch thị bị hạn chế và các mục tiêu điều trị hiện tại có thể không dẫn đến kết quả ở mức mô mong muốn trên dòng chảy vi mạch. Cải thiện sự hiểu biết về sinh bệnh học của chứng liệt mạch kết hợp với các phương tiện mới để theo dõi tác động của các biện pháp can thiệp vào chức năng của mạch máu có thể dẫn đến sự phát triển các thế hệ kế tiếp các trị liệu hoạt mạch. Đo cung lượng tim, huyết áp hệ thống và áp lực tĩnh mạch trung tâm cho phép tính SVR.

Nguyên nhân gây liệt mạch

Nhiễm khuẩn huyết

Nguyên nhân phổ biến nhất của chứng liệt mạch tại ICU là nhiễm khuẩn huyết. Tỷ lệ này phụ thuộc vào định nghĩa dùng và quần thể bệnh nhân được xem xét. Việc nhận các thuốc co mạch khi thích hợp, hiện nay được công nhận là một đặc điểm chính của sốc nhiễm khuẩn và thực sự định nghĩa gần đây nhất của sốc nhiễm khuẩn không đòi hỏi sự hiện diện của hạ huyết áp dai dẳng. Tuy nhiên, nó bao gồm việc dùng các thuốc co mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) là 65 mmHg (trong trường hợp không có giảm thể tích máu) và mức lactat máu cao khi có nhiễm khuẩn huyết. Điều này trái ngược với các định nghĩa trước đó đòi hỏi hạ huyết áp như được phản ánh bởi MAP thấp (

Related Posts